Chất lượng nước thải có thể thay đổi một cách mạnh mẽ và nhanh chóng – đặc biệt trong trường hợp lưu lượng nước thải tăng đột ngột. Ngoài ra, còn có các nguyên nhân khác như tải lượng ô nhiễm tăng bất thường, thay đổi tính chất hóa lý của nước,…nếu không kiểm soát chặc chẽ sẽ làm giảm chất lượng nước thải đầu ra. Hãy cùng Biofix theo dõi cụ thể những nguyên nhân gây sock tải ở hệ thống xử lý nhé!

Những nguyên nhân gây nên hiện tượng sock tải:

1. Lưu lượng tăng đột ngột

Khi tăng lượng hàng hóa sản xuất dẫn đến lưu lượng nước thải đầu vào hệ thống tăng đột biến. Tăng lưu lượng đồng nghĩa với lượng chất ô nhiễm tăng, làm rút ngắn thời gian lưu nước bên trong hệ thống nước thải. Đồng thời, việc tải lượng đầu vào tăng làm cho công đoạn xử lý trước đó không đạt hiệu quả sẽ như pH chưa được cân bằng, chưa loại bỏ được độc tố. Việc xử lý với cường độ ô nhiễm định mức đột ngột tăng làm hệ vi sinh không kịp thích nghi hoặc làm việc quá mức dẫn đến chết, rồi gây các hiện tượng như mùi hôi, bùn nổi, bọt,…Từ đó dẫn đến hệ vi sinh trong bể bị sock tải và hiệu quả của việc xử lý cũng như chất lượng của nước thải đầu ra sẽ không đặt yêu cầu.

2. Tải lượng ô nhiễm tăng.

Tải lượng ô nhiễm bất thường là việc chất ô nhiễm tăng đột biết nhưng lưu lượng nước thải vẫn không thay đổi hoặc xuất hiện các chất ô nhiễm mới. Hệ vi sinh khi gặp nguồn ô nhiễm mới cần thời gian thích nghi và xử lý chúng. Vì vậy, nếu thời gian thích nghi kéo dài hoặc chất ô nhiễm mới khó phân hủy sẽ làm giảm mật độ vi sinh thậm chí gây chết chúng. Kéo theo tình trạng giảm hiệu quả xử lý và chất lượng nước thải đầu ra không đạt yêu cầu.

Để khắc phục tình trạng này, người vận hành phải thường xuyên kiểm tra hệ thống để phát hiện những sự cố kịp thời cũng như kiểm tra chất lượng nước đầu vào, đầu ra để phát hiện những chất ô nhiễm mới hoặc nồng độ chất ô nhiễm có tăng bất thường hay không. Khi gặp lượng chất ô nhiễm tăng bất thường ta có thể thêm nước sạch vào một lượng hợp lý để pha loãng nồng độ chất ô nhiễm đồng thời có bể điều hòa để điều chỉnh và đồng nhất nước thải trước khi vào hệ thống để duy trì sự ổn định.

3. Thay đổi tính chất hóa lý của nước

Nhiệt độ, pH, DO là những yếu tố ảnh hóa lý ảnh hưởng trực tiếp đến vi sinh. Ở bể hiếu khí, vi sinh chỉ hoạt động tốt khi ở ngưỡng nhiệt độ tối ưu từ 37-380C. Khi nhiệt độ quá cao vi sinh sẽ chết, khi nhiệt độ quá thấp mọi hoạt động của chúng sẽ bị ức chế.

Yếu tố pH là yếu tố tiên quyết quyết định hiệu quả xử lý của hệ vi sinh, pH tối ưu từ 6,5-8,5. Ở mức pH quá kiềm hoặc axit hệ vi sinh sẽ bị ức chế, nếu pH thay đổi đột ngột hệ vi sinh sẽ bị sock và hiện tượng bùn nổi sẽ xuất hiện. để cân bằng và ổn địng pH người ta thường sử dụng sút.

DO cũng là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến vi sinh. Điều này là cực kỳ quan trọng trong bể hiếu khí vì hoạt động sống của vi sinh chủ yếu phụ thuộc và cần có oxi. Nếu thiếu oxy sẽ xuất hiện những vùng kị khí sinh mùi hôi do quá trình phân hủy không hoàn toàn tạo ra CH4, NH3 gây mùi.

Biện pháp khắc phục:

  • Giảm lưu lượng nước thải đầu vào, có thể thấp hơn hẳng mức lưu lượng xử lý tối thiểu để giảm tải lượng xử lý.
  • Bổ sung men vi sinh cho hệ thống xử lý nước thải.
  • Bổ sung chất dinh dưỡng cho hệ thống